Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

Trích Hồi Ký Tống Văn Công: THÁP TÙNG ÔNG VÕ VĂN KIỆT ĐI “XÉ RÀO”



Tống Văn Công
13-1-2017

Ảnh bìa sách Hồi Ký Tống Văn Công. Nguồn: internet
Ảnh bìa sách Hồi Ký Tống Văn Công. Nguồn: internet
Từ tháng 12-1976 ông Võ văn Kiệt làm bí thư Thành ủy thay ông Nguyễn Văn Linh được điều lên làm Trưởng ban cải tạo Trung ương. Ngày 16– 2–1978 Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban Cải tạo, nâng số hộ tư sản từ 6000 lên 28.787 hộ và “quét sạch sành sanh” tư sản công thương nghiệp trong mấy ngày. Sau đó cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm nhặt. Chẳng bao lâu sau tất cả các xí nghiệp bắt đầu vấp những khó khăn giống nhau: Máy móc hư hỏng không có phụ tùng thay thế; nhiên liệu, nguyên liệu cạn kiệt không có ngoại tệ để nhập khẩu. Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt đi khảo sát hàng chục xí nghiệp đang gặp khó khăn lớn.

Biết đây là việc quan trọng, tôi xin ông cho được tháp tùng hầu hết các chuyến đi. Ông Võ văn Kiệt không chỉ nghe giám đốc báo cáo mà sau đó ông gặp từng trưởng phó phòng, ban, chủ tịch công đoàn, bí thư thanh niên và một vài tổ trưởng. Sau mỗi chuyến đi, ông còn hỏi nhận xét của chúng tôi, những người tháp tùng. Ví dụ, trong cuộc làm việc với ngành sản xuất thuốc lá có mặt các vị cục trưởng, tổng giám đốc, các giám đốc, các trưởng phòng. Sau khi ra về ông hỏi: “Theo cậu hôm nay phát biểu của anh nào có giá trị ‘tháo gỡ’ nhứt”? Ông đồng ý với tôi: “Đúng, cái cậu nói tiếng Huế vạch ra những điều phi lý và chỉ rõ cách giải quyết rất căn cơ”. Đó là anh Phó phòng kỹ thuật Lê Đình Thụy, người có cấp bực thấp nhất hôm đó. Ông Kiệt gợi ý Bộ công nghiệp nhẹ bồi dưỡng, đề bạt anh Thụy trở thành Tổng giám đốc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam.
Ở mỗi nơi ông Kiệt đều có ý kiến giải quyết vướng mắc một cách cụ thể. Ông nhận ra ách tắc chủ yếu không phải do hậu quả chiến tranh, không phải do thiếu ngoại tệ mà do cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa mình tự trói tay mình. Trước cải tạo, các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, lợi nhuận, hiệu quả kinh tế là lý do tồn tại của doanh nghiệp là mục tiêu của nhà quản lý. Tài năng của nhà quản lý là nhìn thấy và biết đặt ra những việc làm thiết thực để phát triển sản xuất, tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường, tích lũy thêm nhiều vốn. Cơ chế quản lý doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu bảo vệ bản chất kinh tế xã hội chủ nghĩa, xây dựng sở hữu của nhà nước, chống bóc lột, ngăn cấm chạy theo thị trường.
Các xí nghiệp Dệt Thành Công, Thuốc Lá Vĩnh Hội, Công ty Xe khách miền Đông… đều bị vướng mắc từ cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa. Ví dụ trường hợp Dệt Thành Công: Nếu xí nghiệp được phép vay 120.000 USD, với lãi suất 18% và phụ phí năm 1,5% để nhập sợi, thuốc nhuộm, phụ tùng thì sẽ sản xuất được 120.000 mét vải oxford, trả xong nợ còn lãi 82.000 USD. Nhưng cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa quy định: Cấm xí nghiệp không được tự vay vốn, tự mua nguyên liệu không theo giá nhà nước, không tự xây dựng kế hoạch sản xuất mà bộ chủ quản chưa cho phép, không được tự bán sản phẩm ra thị trường. Mọi kế hoạch vay vốn, sản xuất, tiêu thụ của xí nghiệp đều phải được Bộ chủ quản duyệt. Nếu xí nghiệp trình kế hoạch trái với các quy định nói trên thì chẳng những không được phê duyệt mà còn bị kỷ luật, bởi vì cơ chế quản lý hiện hành được bảo vệ trong vòng rào ý thức hệ cộng sản rất kiên cố.
Nghe báo cáo tình trạng trên, Bí thư Võ văn Kiệt đồng ý cho xí nghiệp “xé rào” và thuyết phục giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Nguyễn Nhật Hồng, ông này cũng đồng tình “xé rào”. Cuối cùng cách làm bất hợp pháp đó đã đưa tới hiệu quả rất tốt đẹp: đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích của tập thể xí nghiệp và lợi ích của từng người lao động. 
Quan sát thành quả đạt được do xé rào, đầu năm 1981, tôi viết bài báo có tựa đề “Ba lợi ích” đăng trên báo Lao Động. Bài báo mở đầu bằng cảnh nhiều công nhân bỏ việc các năm trước trở lại nhà máy xin làm lại do được trả lương thỏa đáng. Giữa lúc các doanh nghiệp vui mừng “ăn nên làm ra” thì có nhiều đoàn thanh tra gồm những nhà lý luận kinh điển từ Trung ương về khảo sát. Đến Xí nghiệp may số 3, nhà lý luận kinh điển lớn tiếng phê phán: “Các anh sai đứt đuôi con nòng nọc rồi! Theo lý luận kinh tế Mác – Lê nin thì tiền lương không bao giờ được tăng vượt quá mức tăng năng suất lao động. So với năm trước năng suất lao động chỉ tăng chỉ tăng 10% vậy hà cớ gì tiền lương tăng đến 50%?”.
Hóa ra lỗi là do đơn giá của Bộ Công nghiệp ban hành đã 5 năm không được điều chỉnh. Ngày đó đơn giá may một áo sơ mi là 30 xu. Một công nhân may một ngày 8 cái áo, thu nhập 2 đồng 40 xu. Thời đó công may ngoài thị trường là 20 đồng / một áo sơ mi. Nếu trả lương theo đơn giá của Bộ thì công may một cái áo không đủ tiền thuê bơm một bánh xe đạp! Tác giả bình rằng “lý luận kinh điển vẫn luôn phải được bổ sung từ thực tiễn cuộc sống tươi xanh, có khi lắm gai nữa, nếu không thì rất dễ xảy ra “lý luận trở thành màu xám”!
Ở Nhà máy in Tổng hợp, nhà lý luận của Đoàn Thanh tra hỏi: “Vì sao công nhân ở đây không ăn độn theo chính sách lương thực hiện hành? Bí thư Thành ủy cũng phải ăn độn kia mà”? Bài báo kể: Bí thư Võ Văn Kiệt trả lời câu hỏi này: “Bí thư Thành ủy chưa làm gì đạt hiệu quả kinh tế thì cứ phải ăn độn. Còn công nhân làm vượt mức được giao thì không phải ăn độn. Có nghĩa khi xã hội chia đều nghèo khổ đấy”! Bài báo được người trình bày lâu năm nhất của báo Lao Động (từ 1945) là nhạc sĩ Văn Cao vẽ minh họa: Một nhà lý luận mang kính, một tay bóp trán vẻ trầm tư bên chồng sách kinh điển.
Sau khi tờ báo có bài “Ba lợi ích” phát hành hơn một tuần thì tôi được điện thoại của anh Trần Tâm Trí, Vụ phó Vụ báo chí phụ trách miền Nam của Ban Tuyên huấn Trung ương mời “Anh đến tôi, có chuyện rất cần mà không thể nói qua điện thoại”. Anh Trần Tâm Trí cho tôi biết, anh vừa ra Hà Nội học Nghị quyết Trung ương. Trong buổi thảo luận tổ, tiến sĩ Đặng Xuân Kỳ (con cả ông Trường Chinh) đang là Viện trưởng Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác– Lênin phát biểu: Có tay Tống Văn trong Sài Gòn vừa viết bài báo tựa đề Ba Lợi Ích với giọng hết sức bố láo, dè bĩu các nhà lý luận Mac– Lenin. Anh Trần Tâm Trí đã “đỡ đòn” cho tôi: “Tống Văn là bút danh của Tống Văn Công phó Tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam. Bài này chắc chắn không phải thể hiện quan điểm cá nhân của anh ta mà là của tập thể ban biên tập và rất có thể của Tổng Liên đoàn Lao động đấy, anh ạ”! (lúc này Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động là Nguyễn Văn Linh). Nghe vậy, Đặng Xuân Kỳ im lặng. 
Cuối năm 1981, trong cuộc học tập Nghị quyết Trung ương ở Hà Nội, tôi quyết định phải đi dự với tư cách phó Tổng biên tập để biết tình hình ở “chóp bu” của Đảng. Tôi dự buổi thảo luận ở Tổ Dân vận gồm đại biểu các cơ quan thuộc Ban Dân vận Trung ương Đảng do ông Vũ Quang, Trưởng ban Dân vận làm tổ trưởng. Tại đây tôi được nghe tất cả các vị hò hét công kích “chủ nghĩa tự do kinh tế Sài Gòn”. Tháng 3-1982 Đại hội 5 Đảng cộng sản, Nguyễn Văn Linh bị đẩy ra khỏi Bộ Chính trị, ông xin về lại Sài Gòn làm bí thư thay ông Võ Văn Kiệt được điều ra Hà Nội. Tại đây ông thừa hưởng thành quả “xé rào” của ông Kiệt. Trong khi đó, ông Kiệt ra Hà Nội bị vạ lây bởi vụ “giá lương tiền” của Lê Duẩn, Tố Hữu. Cuối năm 1985, Trần Bạch Đằng chấp bút quyển “Thành phố Hồ Chí Minh, mười năm” để ông Nguyễn Văn Linh đứng tên (lẽ ra người đứng tên sách này phải là Võ Văn Kiệt). Nhiều đảng viên cao cấp đọc sách này đã kêu lên: “Tổng bí thư khóa 6 đã xuất hiện đây rồi”!
Trong dịp chuẩn bị Đại hội Công đoàn thành phố lần thứ nhất, ông Kiệt bảo ông Nguyễn Hộ: “Anh bảo cậu nào viết báo cáo chánh trị Đại hội Công đoàn đến văn phòng của tôi mà viết. Để có lúc rảnh tôi góp ý”. Tôi đến văn phòng bí thư Thành ủy lúc ấy đóng ở ngôi nhà rất rộng của Nguyễn Tấn Đời (ông này đã di tản). Lúc này ông Kiệt có ba người giúp việc là Thép Mới nguyên phó Tổng biên tập báo Nhân dân, Ba Huấn (sau này là phó chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh), Ba Hương (sau này là chủ nhiệm Viện Xã hội học thành phố). Ba người này không biết tôi đã từng đi theo ông Kiệt qua hàng chục xí nghiệp nên đã kể nhiều nét đặc biệt trong tính cách của ông sếp để giúp tôi dễ dàng khi tiếp cận: Ông không thích theo lối mòn, không chịu lý thuyết suông, đòi phải mổ xẻ tình hình cụ thể và đề ra giải pháp khả thi.
Một hôm, ông đến ngồi đối diện với tôi qua bàn viết, tỏ ý muốn đọc phần đầu bản báo cáo. Đọc xong, ông đưa trả và hỏi: “Anh đánh giá tình hình công nhân Sài Gòn thế nào”? Tôi nhắc lại chuyện ông Trần Bạch Đằng trả lời Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Chí Thanh: “Công nhân Sài Gòn ‘xệ dái’ rồi, không thể dựa họ làm ‘ngòi nổ’ phong trào đấu tranh được. Ngòi nổ của phong trào thành phố Sài Gòn phải là sinh viên học sinh”. Nguyễn Chí Thanh hết sức tức giận khi nghe một bí thư Thành ủy Đảng tiên phong của giai cấp công nhân mà ăn nói “phi giai cấp” đến thế! Lập tức Trần Bạch Đằng bị cách chức. Tôi trả lời ông Kiệt: “Hồi chiến tranh ông Trần Bạch Đằng trả lời Nguyễn Chí Thanh về công nhân như vậy là đúng. Ngày nay, công nhân Sài Gòn vẫn luyến tiếc chế độ cũ, họ cho rằng hồi đó tiền lương thỏa đáng so với công sức bỏ ra và khi giá cả thị trường tăng vọt thì cũng được tăng lương tương ứng. Nếu đem bài của Ban Tuyên huấn Trung ương giảng cho họ nghe về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng thì họ sẽ phì cười, cho rằng mấy anh cộng sản nói dóc có sách”. Do đó, tôi tránh nói theo tài liệu của Ban Tuyên huấn Trung ương mà chỉ nói với họ về những khó khăn của thành phố và những việc cần phải cố gắng làm để khôi phục sản xuất, vì lợi ích đất nước mà cũng là vì cuộc sống của họ”.
Ông Kiệt tỏ ra đồng tình. Ông góp ý thêm: “Công đoàn còn coi trọng người lao động chân tay hơn lao động trí óc. Như vậy là không đúng. Hiện nay trí thức vượt biên rất nhiều. Chúng ta chưa có chánh sách tốt để giữ anh em này, chống chảy máu chất xám. Riêng anh đang nắm hai tờ báo, nên quan tâm đúng chuyện này”. Tiếp thu ý kiến của ông, tôi đặt vấn đề này thành một chương quan trọng của bản Báo cáo Đại hội công đoàn. Trên báo Công nhân Giải phóng cũng đưa tin và bài đậm nét về chủ đề này, nổi bật là loạt bài về bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng từ chối lời đòi hỏi của chồng phải đi ra nước ngoài thì mới có thể sum họp. Hôm đó đọc báo ông tỏ ra rất vui, đến bữa ăn, ông sớt bát phở của mình một phần đưa sang tôi: “Cậu Công đáng được thưởng thêm một suất, vậy mình nhường một phần”! Tôi không chịu nhận, ông kèo nài: “Mình nói đùa mà, sự thật là hôm nay bụng mình có vấn đề. Cậu giúp mình”.
Khi tôi làm Tổng biên tập báo Lao Động, ông thường đến thăm và góp ý nhiều điều bổ ích. Ông thường đến thăm tờ báo còn vì quan tâm đến Lý Quý Chung nguyên Bộ trưởng Thông tin Chính phủ Dương văn Minh, lúc đó là tổng thư ký tòa soạn báo Lao Động. Khi làm bí thư Thành ủy Sài Gòn, ông mời ông Nguyễn Xuân Oánh phụ trách nghiên cứu chính sách kinh tế và lập “nhóm thứ Sáu” gồm các chuyên gia chế độ Việt Nam Cộng hòa như Lâm Võ Hoàng, Trần Bá Tước, Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Nguyễn Ngọc Bích, Phan Tường Vân… Ông sinh hoạt, trò chuyện, quan tâm chăm sóc từng anh em như trong một gia đình.
Ông Lâm Võ Hoàng cán bộ cao cấp ngành Tài chánh Việt Nam Cộng Hòa kể với tôi, ông bị đi tù cải tạo hơn mười năm, ra tù đang chuẩn bị ra nước ngoài thì được thư mời của ông Kiệt đến cuộc họp góp ý xây dựng Sắc lệnh đổi mới Ngân hàng. Ông Hoàng ngạc nhiên và phân vân: Nên đến hay không? Đến thì có nói thẳng với họ không? Nói thẳng, liệu họ có bắt đi cải tạo lần nữa? Cuối cùng ông tò mò muốn đến để nói thẳng xem bọn họ cư xử ra sao. 
Cuộc họp có mặt đông đảo cán bộ lãnh đạo Ngân hàng đứng đầu là Thống đốc Cao Sĩ Kiêm. Sau khi các quan chức, học giả xã hội chủ nghĩa hết ý kiến, ông Kiệt mời ông Hoàng phát biểu. Ông Hoàng nói với giọng xỉa xói phía bên kia: “Ngân hàng của mấy ông không phải là Ngân hàng. Nó chỉ là người giữ két bạc cho mấy ông. Đồng tiền của mấy ông không phải là đồng tiền, đồng tiền gì mà có hai ba giá khác nhau”. Phía Ngân hàng Nhà nước ồ lên phản đối. Ông Kiệt khoác tay, yêu cầu họ im lặng lắng nghe, suy nghĩ, rồi sẽ được mời phát biểu. Ông mời họ phản bác. Sau đó, ông phân tích cho họ thấy ngân hàng xã hội chủ nghĩa chỉ phục vụ tốt cho chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng sẽ cản trở phát triển kinh tế thị trường. Ông Hoàng rất ngạc nhiên vì ông Kiệt lãnh hội rất chắc những vấn đề chuyên môn, chỉ ra được chỗ cần phải thay đổi và những điều mà người bảo thủ làm chỗ dựa. 
Ông Kiệt để lại nhiều dấu ấn trong những quyết định có tầm chiến lược đổi mới kinh tế. Ông cũng là người sớm nhận ra yêu cầu đổi mới chính trị, từ bỏ mô hình chuyên chính vô sản, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền. Trong lá thư gửi Bộ Chính trị ngày 9–8–1995 để chuẩn bị Đại hội 8 của Đảng cộng sản Việt Nam, ông cho rằng, thế giới ngày nay không còn mâu thuẫn đối kháng giữa hai phe chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc mà trước hết là tính chất đa dạng, đa cực trở thành nhân tố nổi trội. Bốn nước xã hôi chủ nghĩa còn lại thì tính chất quốc gia đã lấn át tính chất xã hội chủ nghĩa. Thậm chí trong quan hệ Việt Nam –Trung Quốc tồn tại không ít điểm nóng. Ông cho rằng hoàn cảnh ngày nay có nhiều thuận lợi để đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh. Chúng ta có thể học kinh nghiệm của các “con rồng” châu Á để rút ngắn thời gian công nghiệp hóa từ mấy trăm năm xuống vài thập kỷ. Đảng phải phấn đấu để trở thành một bộ phận tinh hoa tiêu biểu trí tuệ, nghị lực và phẩm chất cao quý của toàn dân tộc bao gồm cả toàn thể cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đang hướng về Tổ quốc.
Bức thư nói trên được cơ quan của Đảng đóng dấu “tối mật”. Hàng chục năm sau do lưu giữ nó mà các ông Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Kiến Giang bị bắt, bị tù tội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét